Oneway.vn – Thế giới sa ngã của chúng ta luôn có khuynh hướng ngủ quên thuộc linh.

Tình trạng ấy đã lặp lại từ bao đời và sẽ còn xuất hiện cho đến khi tiếng kèn vang lên báo hiệu ngày Đấng Christ tái lâm.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không bao giờ để Tin Lành thiếu đi những nhân chứng.
Trong mỗi thế hệ, Ngài đều dấy lên những tiếng vang lớn để thức tỉnh các linh hồn. Một trong những tiếng vang mạnh mẽ nhất từng làm rúng động cả một thế hệ chính là Mục sư George Whitefield (1714–1770).
Đại Phấn Hưng (A Great Awakening), bộ phim của nhà hát Sight and Sound, kể về tình bạn giữa một trong những vị khai quốc công thần của Hoa Kỳ là Benjamin Franklin và “tổ phụ thuộc linh của Hoa Kỳ” – George Whitefield. Tình bạn và sự cộng tác của họ kéo dài hơn ba thập kỷ, mang lại lợi ích cho cả hai. Franklin đã dùng nhà in của mình để ấn hành các thông tin về lộ trình, các bài giảng và nhật ký của Whitefield – điều này mang lại sự thịnh vượng tài chính cho Franklin và giúp Tin Lành được rao truyền qua Whitefield. Nhiều thập kỷ sau đó, Franklin đã viết: “Tình bạn giữa chúng tôi thuần túy là tình bằng hữu giữa những người công dân, chân thành từ cả hai phía, và kéo dài cho đến khi ông ấy qua đời” (America’s Spiritual Founding Father, 112).
Câu chuyện về người đàn ông được Đức Chúa Trời dùng để thắp lên ngọn lửa phấn hưng trên cả hai châu lục không thể nào kể hết trong thời lượng hơn hai giờ đồng hồ.
Whitefield là một nguồn động lực mạnh mẽ, một cơn cuồng phong đã quét qua nước Anh và các thuộc địa với lòng sốt sắng tin kính, đời sống tâm linh đầy quyền năng và khả năng hùng biện lừng danh. Những sự thật về ông gần như thật khó tin. Có những giai đoạn, thời gian ông giảng gần bằng, thậm chí vượt quá thời gian ông ngủ. Khi không đứng trên tòa giảng, ông lại cưỡi ngựa suốt quãng đường dài để đến điểm nhóm tiếp theo. Ông đã giảng dạy một ngàn lần mỗi năm trong suốt ba mươi năm, phần lớn là trước hàng ngàn người, tất cả đều không có micro hay ghi chú, và thường là ở ngoài trời.
Mục sư John Piper đã nhấn mạnh trong bài giảng của ông: “Ước tính có khoảng 80% toàn bộ dân số của các thuộc địa Mỹ (thời bấy giờ chưa có tivi hay radio) đã được nghe Whitefield giảng ít nhất một lần.”
Tiếng nói của sự phấn hưng
Trước khi Whitefield lên tiếng, ông đã “thấy”. Cuối cùng, sau khi gần như kiệt sức vì lối sống khổ hạnh cùng nỗ lực bằng sức riêng, ông đã nhìn thấy vinh quang của Đấng Christ thông qua sự tái sinh.
Ông nhìn thấy các giáo lý về ân điển xuyên suốt Kinh Thánh. Rồi ông nhìn thấy một thế giới đang ngủ mê, và hơn thế nữa, Hội Thánh đang ngủ mê không hề tỉnh thức trước những thực tại vĩ đại của đời này và đời sau.
Chúng ta cần những tiếng nói như ông để đánh thức chính mình – những tiếng nói không chỉ ủng hộ đạo đức căn bản, luật lệ tự nhiên hay sự liêm chính, nhưng là tiếng kêu vang về những yêu cầu của Đức Chúa Trời, về ân điển của Ngài trong Đấng Christ, và những nền tảng của đạo thật được bày tỏ trong Chúa Jêsus. Đức Chúa Trời có thể sử dụng những kiểu tiếng nói nào ngày nay? Nếu không được ban cho tài năng và tầm vóc như Whitefield, thì ít nhất những tiếng nói ấy cũng có một vài đặc điểm tương đồng sau:
1. Tiếng nói riêng biệt ra thánh
Nếu có điều gì định nghĩa nên con người của Whitefield, thì đó chính là tấm lòng tận hiến trọn vẹn của ông cho Đức Chúa Trời.
Ông đạt được những kỳ tích phi thường chỉ vì ông đã tận hiến cho Đấng Christ. Ông nói về lễ phong chức của mình: “Khi Giám mục đặt tay trên tôi, tôi đã dâng mình để trở thành một người tuận đạo cho Ngài, là Đấng đã treo trên thập tự giá vì tôi” (America’s Spiritual Founding Father, 37).
Whitefield đã giữ trọn tinh thần của lời hứa nguyện này, hầu việc Chúa và chấp nhận sự bắt bớ (bao gồm cả vài lần bị ám sát bất thành), những hiểm nguy cận kề cái chết trên đại dương, và rất có thể là nguy cơ rút ngắn tuổi thọ vì việc giảng dạy không ngơi nghỉ.
J.C. Ryle đã viết: “Ông là người ưu tú chỉ chú tâm vào một việc, và luôn lo công việc của Chủ mình. Từ sáng Chúa Nhật đến tối thứ Bảy, từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12, ngoại trừ lúc phải nằm lại vì đau ốm, ông gần như không ngừng nghỉ rao giảng về Đấng Christ và đi khắp thế gian nài xin người ta ăn năn, đến với Đấng Christ để được cứu” (Select Sermons of George Whitefield, 22). Thường giảng từ 40 đến 60 giờ một tuần, cuộc đời ông là một bài giảng dài bất tận (George Whitefield, 2:522).
Sau khi đọc cuốn The Life of God in the Soul of Man của Henry Scougal, ông tin nhận Chúa và sớm trở thành một ‘Sa-mu-ên’ tận hiến cho Ngài. Ông dong ruổi khắp các thuộc địa để công bố sự ăn năn và đức tin, vì ông biết Đức Chúa Jêsus chắc chắn sẽ đến như kẻ trộm trong đêm.
Các bài giảng, công khó và những dòng nhật ký của ông đều bày tỏ một con người hoàn toàn tận hiến cho Đức Chúa Trời và công việc Ngài. Ông không phải là một thường dân, cũng chẳng đơn thuần là một người lính: ông là một vị tướng đã ăn, ngủ và chịu khổ vì một mục đích, một sứ mệnh duy nhất.
Đó không phải là tiếng nói của những người dành sự nhiệt huyết nhất cho các chương trình giải trí hay các sự kiện thế gian, những mục sư chỉ hầu việc Chúa bằng nguồn năng lượng ít ỏi còn sót lại sau khi đã dồn hết tâm trí cho những công việc khác. Tiếng nói ấy không làm nô lệ cho những điều tầm thường nhưng được sử dụng cho một mục tiêu duy nhất: vinh quang của Đức Chúa Trời cứu rỗi các linh hồn.
Whitefield không chịu lãng phí dù chỉ một giờ đồng hồ và sống dưới một kỷ luật nghiêm ngặt. Điều đó đã tạo ra những thành quả vượt xa cả một “đội quân” của những người chỉ biết ngồi lướt điện thoại.
2. Tiếng nói có năng lực
Nhờ đâu mà Whitefield có được quyền năng không thể phủ nhận như vậy?
Người tin Chúa sẽ trả lời rằng: “Nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời, Tin Lành của Ngài và công việc của Ngài trên người nghe.” Khi trả lời về chức vụ của chính mình, ông nói: “Mọi điều lành được thực hiện trên đất, chính Đức Chúa Trời làm điều đó” (George Whitefield, 1:33). Tuy nhiên, Chúa đã ban cho Whitefield một giọng nói có năng lực được mài giũa qua việc học tập và rèn luyện.
Những người thuộc về xác thịt chỉ nhìn thấy nghệ thuật trong lời nói của ông. Những người hoài nghi, dù không thể phủ nhận tầm ảnh hưởng kỳ diệu của ông, đã cố tìm những cách giải thích tự nhiên: “Ông ấy là một diễn viên tài ba, một nhà truyền đạo mang phong cách Shakespeare, sinh ra để đứng trên bất kỳ sân khấu nào ông chọn.” David Garrick, một diễn viên lừng danh của nước Anh thế kỷ 18, đã thú nhận ông ghen tị với khả năng của Whitefield: “Tôi sẵn lòng chi ra một số tiền khổng lồ để có thể thốt ra từ ‘Ôi!’ giống như cách mà Whitefield cất tiếng.”
Benjamin Franklin là một minh chứng điển hình. Dù không cùng đức tin và đã tự nhủ sẽ không chi một đồng nào cho công việc của Whitefield, nhưng khi nghe giảng xong, ông lại dốc hết tiền trong túi để dâng hiến. Franklin thuật lại rằng giọng giảng của Whitefield được trau chuốt và đầy sức truyền cảm đến mức, dù người nghe không để tâm đến nội dung, họ vẫn cảm thấy thỏa lòng như đang nghe một bản hòa tấu xuất sắc (George Whitefield, 1:116).
Whitefield sở hữu một giọng nói đã qua rèn giũa. Ngay từ nhỏ, ông đã tham gia diễn xuất tại quán trọ lớn của gia đình và dành tâm huyết nghiên cứu nghệ thuật hùng biện. Khả năng diễn thuyết của ông là điều không ai có thể phủ nhận. Ngay cả cường độ giọng nói của ông cũng là một điều phi thường. Ban đầu, Benjamin Franklin còn hoài nghi trước những báo cáo cho rằng Whitefield có thể giảng cho 25.000 người nghe mà không cần bất kỳ thiết bị khuếch đại nào. Thế nhưng, sau khi tự mình tính toán, Franklin xác nhận rằng thực tế ông có thể nói cho tận 30.000 người nghe. Một nghiên cứu hiện đại thậm chí còn đưa ra con số lên tới 60.000 người. Có lần, người ta ghi nhận giọng giảng của ông vang rõ mồn một từ khoảng cách hai dặm xuôi theo dòng sông Delaware.
Dẫu công việc của Đức Chúa Trời không lệ thuộc vào những giọng nói chuyên nghiệp, nhưng Ngài vẫn thường sử dụng những tiếng nói vang dội, mạnh mẽ và rõ ràng, đầy dẫy sự xác tín và tỏa rạng lòng mến yêu Ngài – để đem sự thức tỉnh đến. Những tiếng nói muốn làm rúng động hàng ngàn người trước hết phải có khả năng chạm đến hàng ngàn người đó. Vì vậy, hãy học cách sử dụng “nhạc cụ” mà Chúa ban cho mình. Cơ Đốc nhân là những người “sống và nói” – chúng ta làm chứng, dạy dỗ, nài xin, cầu nguyện và sống xứng đáng với sứ điệp mình rao giảng. Đức Chúa Trời đã định rõ rằng sự tốt lành của thế gian và kết cục đời đời của các linh hồn phụ thuộc phần lớn vào tiếng nói của con người. Và đôi khi, một vài tiếng nói ấy sẽ nổi lên như những đám mây sấm sét, phóng ra những tia chớp làm bừng sáng cả một quốc gia.
3. Tiếng nói cáo trách
Nhiều Hội Thánh ngày nay quan niệm rằng để nhạy bén với quần chúng, người ta không nên gây mếch lòng, mà nên trình bày sứ điệp theo cách thức của thế gian. Thế nhưng, những tiếng nói từng làm rúng động thế giới trong kỳ Đại Phấn Hưng chưa bao giờ là những tiếng nói cầu cạnh làm đẹp lòng người hay chiều chuộng lỗ tai người nghe. Whitefield không hề gọt giũa hay giảm nhẹ lời Chúa phán về tội lỗi. Theo tiêu chuẩn ngày nay, nhiều bài giảng của ông có thể bị coi là “không biết cách lấy lòng người nghe”, thế nhưng Đức Chúa Trời đã ban phước dư dật trên sự giảng dạy đó.
Whitefield đã băng qua Đại Tây Dương mười ba lần, mỗi chuyến hải hành kéo dài cả tháng trời. Thời gian không đủ để thuật lại câu chuyện mầu nhiệm về chuyến đi đầu tiên của ông, khi Đức Thánh Linh đánh động một đội tàu nhỏ gồm ba chiếc – những con tàu vốn đầy rẫy những con người say sưa, xác thịt thuộc về thế gian.
Giữa biển khơi, với sức ảnh hưởng của Whitefield, một cuộc cải chánh đã bùng nổ. Cuối cùng, mỗi buổi sáng, mọi người đều tụ họp để lắng nghe Whitefield giảng – giọng ông vang dội đến mức cả ba con tàu đều có thể nghe rõ. Nếu chúng ta khát khao sự phấn hưng, hãy lắng nghe bài giảng mà Đức Chúa Trời đã ban phước như thế này:
“Hãy tin tôi, hỡi những người đang khốn khổ vì phục vụ Bê-li-an (vì than ôi, chính tội lỗi này đã đày đọa các anh đến nông nỗi này!). Giờ đây, không chỉ vì những lý do đanh thép nhất mà còn vì lòng quan tâm sâu sắc dành cho linh hồn bất diệt và quý giá của các anh, tôi nài xin các anh bằng chính lời của vị thánh đồ rằng: ‘Đừng say rượu, vì rượu dẫn đến buông tuồng’…
Hỡi những người đang chìm trong say sưa, các anh nghĩ sao? Liệu các anh có bao giờ được dự phần vào cơ nghiệp của các thánh đồ trong nước sáng láng không? Các anh có đang tự lừa dối mình rằng: chính các anh – những kẻ thường lấy các thánh đồ ra làm trò đùa trong những bài hát khi say chén – lại sẽ được tôn cao để cùng họ hát vang những bài ca thiên thượng của Si-ôn sao? Không bao giờ! Vì qua sự say sưa, các anh đã biến lòng mình thành cái lồng nhốt mọi thứ chim ô uế, nên các anh phải ở chung với những linh nhơ nhuốc và bẩn thỉu…
Nhưng hãy quay lại! Hãy từ bỏ những đường lối gian ác đó mà quay lại ngay! Hãy đến với Cứu Chúa Jêsus Christ bằng tâm tình của đứa con hoang đàng ăn năn mà thưa rằng: ‘Lạy Cha, chúng con đã phạm tội! Khẩn xin Cha đừng để tội say sưa này làm chủ đời sống con thêm một giây phút nào nữa!’” (George Whitefield, 1:159)
Cách giảng dạy của ông luôn có sự chuyển hướng bất ngờ, buộc người nghe phải trực diện với lẽ thật. Vào thời ấy, bị gán cho cái danh “quá khích” là điều nhiều mục sư e ngại, nên những bài giảng mạnh mẽ và dạn dĩ không mấy phổ biến. Nhưng Whitefield đã phá tung mọi rào cản. Ông rực cháy bởi lòng sốt sắng thánh khiết, vừa lý luận sắc bén, vừa tha thiết nài xin người nghe quay về với Chúa. Những người từng nghe ông chẳng tìm được một bài giảng nào không làm đôi mắt họ đẫm lệ – cả người giảng và cả người nghe.
Giống như Whitefield, nững tiếng nói mà chúng ta cần hôm nay phải kêu gọi sự tái sinh, kêu gọi đức tin nơi Đấng Mê-si-a vinh hiển, và thúc giục con người ăn năn những tội lỗi thật của mình. Những tiếng nói ấy sẽ làm nhiều người khó chịu, kinh ngạc, thậm chí bàng hoàng, nhưng cũng sẽ đánh thức kẻ đang mê ngủ giữa thế gian, hướng họ về cõi đời đời và Đức Chúa Trời của cõi ấy.
4. Tiếng nói can đảm
Whitefield không chịu thỏa hiệp, ông rao giảng cả lời cảnh tỉnh lẫn sự an ủi của Đấng Christ. Là người được công chúng chú ý, ông biết mình phải chấp nhận bị hiểu lầm, bị nói xấu và bị chống đối.
Ông được yêu mến bao nhiêu thì cũng bị ghét bỏ bấy nhiêu. Người ta ghét ông vì những bài giảng quá thẳng thắn, vì việc giảng ngoài trời, vì ông nhấn mạnh đến sự tái sinh, vì cộng tác với những người ngoài Giáo hội, vì giáo lý ông tin, vì phong cách giảng dạy mạnh mẽ, và vì dám đối đầu với hàng giáo phẩm – nhiều người trong số họ đã đóng cửa tòa giảng trước mặt ông. Ngay cả John Wesley, người Whitefield từng xem như cha thuộc linh, cũng công khai phản đối quan điểm Calvin của ông, nói rằng: “Ông đang nói về Đức Chúa Trời còn tệ hơn cả ma quỷ” (America’s Spiritual Founding Father, 80). Báo chí thời đó cũng tung ra nhiều ấn phẩm công kích ông, như cuốn The Nature, Folly, Sin, and Danger of Being Righteous Over-Much của Joseph Trapp, được tái bản đến bốn lần.
J.C. Ryle (cũng là một Giám mục Anh giáo) nhận xét: “Sự thật rõ ràng là Giáo hội Anh quốc thời đó chưa sẵn sàng để đón nhận một con người như Whitefield. Giáo hội đã ngủ quên quá lâu để có thể hiểu ông, và cảm thấy khó chịu vì có một người không chịu ngồi yên mà cứ đi quấy rầy ma quỷ” (George Whitefield, 1:216). Không phải ai cũng vui khi đang mơ màng mà bị tiếng kèn đánh thức, và Sa-tan cũng chẳng muốn những kẻ theo nó tỉnh giấc.
Thế nhưng, những tiếng nói Đức Chúa Trời dùng trong sự phấn hưng luôn là những tiếng nói can đảm, không run sợ trước lời gièm pha. “Các ngươi ra xem gì trong hoang mạc?” – Đức Chúa Jêsus nói về Giăng Báp-tít cho đoàn dân đông – “Một cây sậy bị gió rung chăng?” (Ma-thi-ơ 11:7).
Không.
Những tiếng nói làm rung chuyển cả một quốc gia là những tiếng nói đứng vững, không bị cuốn bay bởi chống đối – dù sự chống đối đến từ người cùng phe, từ đám đông ném đá, ném xác mèo chết khi ông đang giảng, hay từ những lời vu khống trên mặt báo. Whitefield đã chứng minh mình là một tiếng nói như thế, bất chấp mọi cám dỗ bảo ông phải mềm dịu đi. Arnold Dallimore nhận xét: “Chỉ cần nhượng bộ đôi chút ở đây, điều chỉnh sứ điệp đôi chút ở kia, cẩn thận đừng quá mạnh mẽ về điều gì và đừng làm ai phật ý, ông đã có thể hưởng trọn vẹn thiện chí của mọi người và tránh được cuộc đời đầy xung đột” (George Whitefield, 1:134). Nhưng Whitefield đã chọn trung tín với chân lý Đức Chúa Trời phán trong Kinh Thánh, và công bố điều đó từ trên mái nhà, bất kể phải trả giá thế nào.
5. Tiếng nói ban sự sống
“Các ngươi phải sinh lại” – năm từ mà Đấng Christ phán với Ni-cô-đem đã tóm gọn gánh nặng lớn lao trong chức vụ của Whitefield. Arnold Dallimore đã viết: “Đây là lẽ thật vĩ đại nhất, là nền tảng cho chức vụ của Whitefield ngay từ những ngày đầu.” Charles Spurgeon, một người vĩ đại khác cũng ngưỡng mộ Whitefield, cũng nhận xét: “Đây chính là cốt lõi trong sự giảng dạy của Whitefield.”
Ông luôn chú trọng vào “Chữ R vĩ đại” – Regeneration (Sự Tái Sinh). Bất cứ khi nào bạn nghe ông giảng, “Ba chữ R” đều hiện lên rõ rệt: Ruin (Sự Hư Mất), Regeneration (Sự Tái Sinh), và Redemption (Sự Cứu Chuộc)!
- Sự Hư Mất: Con người bị hư mất, hoàn toàn hư mất; một sự hư mất vô vọng, bất lực và kéo dài đến đời đời!
- Sự Tái Sinh: Con người được tái sinh bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và chỉ bởi duy Ngài mà thôi, để trở nên một tạo vật mới hoàn toàn trong Đấng Christ!
- Sự Cứu Chuộc: Con người được cứu chuộc khỏi mọi tội lỗi bằng huyết báu của Cứu Chúa Jêsus, không phải bằng việc lành, không phải bằng việc tu giữ luật pháp, cũng chẳng phải qua nghi lễ, lời cầu nguyện hay những quyết tâm cá nhân, nhưng duy chỉ bởi huyết quý báu của Đấng Christ mà thôi!
Whitefield hiểu thế nào về sự tái sinh?
Đối với Whitefield, tái sinh là một trải nghiệm có thể cảm nhận được, đôi khi là một quá trình đầy đau đớn của việc từ bỏ tội lỗi, quay hướng về Đức Chúa Trời để nhận sự tha thứ trong Đấng Christ. Người ta không nghiễm nhiên được tái sinh chỉ vì họ đã chịu phép Báp-têm, hay vì họ theo Giáo hội. Mỗi người phải cá nhân đầu phục cuộc đời mình cho Đấng Christ. Nếu không, họ vẫn phải đối diện với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời và nguy cơ hư mất nơi địa ngục. Rao giảng về sự tái sinh đã trở thành tâm điểm trong chức vụ và là mục đích sống của Whitefield.
Giáo lý này đã biến Whitefield thành “kẻ phản diện” trong mắt một số người. Cách giảng dạy này làm dấy lên những nghi ngờ về tình trạng cứu rỗi của các tín hữu ngay trong Giáo hội, đồng thời hiệp nhất ông với những Cơ Đốc nhân bên ngoài giáo hội đó. Lời giảng ấy đặt sự cứu rỗi vượt ra ngoài ý muốn đơn thuần của con người, khẳng định Đức Thánh Linh là Đấng tể trị, quyền năng tái sinh thuộc về Ngài. Để đáp lại sự dạy dỗ đó, người ta đã cùng thốt lên như Ni-cô-đem xưa kia: “Làm thế nào điều ấy có thể xảy ra được?” (Giăng 3:9). Trong các cuộc phấn hưng lịch sử, đây luôn là sứ điệp nhất quán, mà qua đó Đức Chúa Trời hạ bớt lòng kiêu ngạo của tội nhân, khiến họ phải đặt đức tin hoàn toàn vào Đấng Christ để được cứu.
Xin thức tỉnh chúng con hôm nay
Giữa thời điểm thế giới đang đối diện với biết bao biến động, chẳng lẽ nhân loại chúng ta không phải đang khát khao một sự phấn hưng từ trời sao? Những chính sách hay nỗ lực của con người có thể giúp cải thiện vỏ bọc bên ngoài, nhưng gốc rễ của vấn đề lại nằm ở sâu thẳm trong tâm linh. Chúng ta cần những nhà lãnh đạo chính trực, nhưng hơn hết, chúng ta cần những nhà truyền đạo chân chính. Thế giới đang cần một dàn đồng ca với những tiếng nói ngày càng lớn mạnh – những tiếng nói được biệt riêng ra thánh, đầy năng lực, dạn dĩ cáo trách tội lỗi và ban sự sống – những tiếng nói được Thánh Linh sử dụng để hạ bớt lòng kiêu ngạo của tội nhân và tôn cao Đức Chúa Con. Chỉ có như vậy, niềm hy vọng thật và ơn cứu rỗi mới có thể đến với một thế hệ đang mỏi mòn khát khao lẽ thật.
Chúng ta hãy cùng nhau kêu cầu:
Từ đại dương, qua thung lũng,
Từ đất liền cho đến tận bãi bờ,
Nguyện vương quốc Chúa được thức tỉnh
Trong lòng người một lần nữa, Chúa ôi.
Công bố sự tự do cho con dân Ngài,
Giải phóng những linh hồn đang bị xiềng xích.
Cầu xin Thánh Linh ngự đến và thức tỉnh!
Xin phấn hưng chúng con ngay hôm nay!
Bài: Greg Morse; dịch: Esther Võ
(Nguồn: desiringgod.org)

Leave a Reply