Oneway.vn – Có một nguyên tắc trong đời sống theo Chúa: khi chúng ta xem nhẹ tội lỗi của mình, chúng ta cũng sẽ xem nhẹ chính Đấng Christ.
Nếu nghĩ rằng mình chẳng có bao nhiêu điều cần được tha thứ, chúng ta cũng sẽ chẳng thấy mình có lý do gì để yêu Ngài nhiều (Lu-ca 7:47). Điều đó cũng xảy ra khi chúng ta quên mất Đức Chúa Trời đã tha thứ cho mình nhiều đến dường nào. Dù vô tình hay hữu ý, ai trong chúng ta cũng có lúc rơi vào sự lãng quên ấy.
Có lẽ vì vậy mà sứ đồ Phao-lô nhiều lần nhắc các tín hữu hãy nhớ lại con người mình trước khi được Đấng Christ cứu chuộc:
“Vậy hãy nhớ lại rằng trước kia anh em là dân ngoại theo phần xác… anh em không có Đấng Christ, không có quyền công dân Y-sơ-ra-ên, xa lạ đối với giao ước của lời hứa, không có hi vọng, không có Đức Chúa Trời.” (Ê-phê-sô 2:11–12)
Hãy nhớ, Phao-lô nhắn nhủ các tín hữu Ê-phê-sô như vậy. Họ cần nhớ rằng họ từng bị phân cách với Đấng Christ, xa lạ với giao ước của Đức Chúa Trời, không có hy vọng và không có Ngài trong thế gian. Chỉ khi nhớ mình đã từng ở trong tình trạng ấy, họ mới thật sự cảm nhận được ý nghĩa của việc được hòa giải, được đón nhận và được cứu chuộc trong Đấng Christ.
Chúng ta cũng vậy. Nếu muốn yêu mến Đấng Christ nhiều hơn, chúng ta cần nhớ đến vực sâu mà Ngài đã cứu mình ra khỏi. Nếu muốn trân quý mọi điều mình đang có trong Ngài, chúng ta cần nhớ mình đã từng là ai trước khi được Ngài cứu chuộc.
Những ngôi đền đổ nát
Các trước giả Kinh Thánh không bao giờ nói giảm nói tránh về tội lỗi của chúng ta. Phao-lô không ngần ngại mô tả chúng ta là kẻ “chết vì… tội lỗi” (Ê-phê-sô 2:1), và Giăng cũng gọi chúng ta là kẻ “mù mắt” (I Giăng 2:11). Trong mắt Đức Chúa Jêsus, ngay cả những người rộng lượng nhất trong chúng ta cũng vẫn là “người xấu” (Lu-ca 11:13). Vì vậy, chúng ta cũng không nên né tránh sự thật về bản thân mình trước khi được Đấng Christ cứu chuộc.
Trái với nhiều hiểu lầm phổ biến, Kinh Thánh không dạy rằng con người xấu xa đến mức không thể xấu hơn. Điều Kinh Thánh khẳng định là tội lỗi đã làm băng hoại toàn bộ con người chúng ta. Tâm trí, tấm lòng, ý chí và cảm xúc đều đã bị sự sa ngã làm cho đổ vỡ, không một phương diện nào trong đời sống còn nguyên vẹn sau khi con người ra khỏi vườn Ê-đen. Đây chính là điều mà thần học thường gọi là “sự hư hoại hoàn toàn”. Như J.C. Ryle đã viết:
“Chúng ta có thể ví con người như một ngôi đền nguy nga từng là nơi Đức Chúa Trời ngự, nhưng nay chỉ còn là đống hoang tàn. Dẫu vậy, giữa những bức tường đổ nát, một khung cửa sổ còn sót lại, một lối đi chưa sụp đổ hay một cây cột còn đứng vững vẫn đủ để gợi lên vẻ huy hoàng của bản thiết kế ban đầu. Thế nhưng, từ nền móng đến mái nhà, ngôi đền ấy đã đánh mất vinh quang vốn có và sa ngã khỏi địa vị cao quý thuở ban đầu.” (Holiness, tr. 5)
Con người sau sự sa ngã giống như một ngôi đền đổ nát vẫn còn mang dấu vết của vẻ huy hoàng thuở ban đầu. Tâm trí chúng ta, vốn từng đón nhận ánh sáng chân lý, nay trở nên “tối tăm” và “hư không” (Ê-phê-sô 4:18; Rô-ma 1:21). Tấm lòng, vốn được dựng nên để yêu mến Đức Chúa Trời, nay trở nên “chai cứng” và “dối trá” (Ê-phê-sô 4:18; Giê-rê-mi 17:9). Ý chí, vốn từng vui thích làm theo ý muốn Ngài, nay lại khước từ tiếng gọi của Ngài (Giê-rê-mi 9:6; Giăng 5:39–40).
Ngôi đền ấy vẫn còn đó, nhưng chẳng có căn phòng nào chưa bị tội lỗi làm hoen ố. Đó chính là điều Kinh Thánh muốn truyền đạt khi khẳng định rằng con người đã hoàn toàn hư hoại: không phải vì chúng ta xấu xa đến mức cực độ, mà vì không một phương diện nào trong đời sống chúng ta còn nguyên vẹn sau sự sa ngã. Chỉ trong Đấng Christ, ngôi đền ấy mới có thể được phục hồi.
Dù một người cũng không
Điều khiến giáo lý về sự hoàn toàn hư hoại trở nên khó chấp nhận khi xét đến những hệ quả của nó. Kinh Thánh cho biết rằng trong tình trạng sa ngã, chúng ta không thể thuận phục Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:7), không thể làm đẹp lòng Ngài (Rô-ma 8:8; Hê-bơ-rơ 11:6), và thậm chí không thể làm điều thiện theo ý nghĩa mà Đức Chúa Trời đòi hỏi (Giăng 15:5; Rô-ma 14:23). Phao-lô viết: “Chẳng có một ai làm điều lành, dù một người cũng không.” (Rô-ma 3:12)
Nhưng chúng ta phải hiểu lời khẳng định ấy như thế nào? Chẳng phải mỗi ngày chúng ta vẫn thấy những người chưa tin Chúa yêu thương gia đình, giúp đỡ hàng xóm, chăm sóc người yếu đuối và hy sinh vì người khác sao? Thậm chí, trước khi tin Chúa, chính chúng ta cũng từng làm không ít việc mà ai cũng xem là tốt đẹp.
Chắc chắn rồi, các trước giả Kinh Thánh vẫn thừa nhận rằng những người chưa tin Chúa có thể làm một vài điều lành. Ngay cả “người xấu còn biết cho con cái mình các vật tốt” (Lu-ca 11:13). Tương tự, Phao-lô cũng mặc nhiên thừa nhận rằng các nhà cầm quyền biết phân biệt “điều tốt đẹp”, và người ngoại cũng có thể bày tỏ điều đó (Rô-ma 13:3). Nhưng nếu điều tốt ấy không hướng về Đức Chúa Trời, dù có ích cho việc duy trì xã hội trật tự, thì cũng không bao giờ có thể làm đẹp lòng Ngài – như một bài ca ngợi Ba-anh có du dương đến đâu cũng không thể đẹp lòng Đức Chúa Trời. Nếu điều tốt chúng ta làm không xuất phát từ Đức Chúa Trời, không vì Đức Chúa Trời và không hướng về Đức Chúa Trời (Rô-ma 11:36), thì cuối cùng, chúng ta cũng chỉ đang làm để tôn vinh một thần tượng mà thôi.
Có lẽ nếu Đức Chúa Trời chỉ là một nhân vật phụ trong thế giới này, nếu Ngài chỉ giữ một vị trí mờ nhạt và chẳng mấy quan trọng, thì lòng tốt của những người không tin Chúa có thể được xem là nhân đức thật sự.
Như C.S. Lewis từng viết, có lẽ nếu Đức Chúa Trời không phải là Cha thiên thượng, mà giống như “một ‘người ông’ hiền lành nhưng lẩm cẩm ở trên thiên đàng… chỉ muốn mang lại cho vũ trụ một cuộc sống dễ chịu, để cuối cùng ai cũng mỉm cười và nói rằng: ‘Hôm nay quả là một ngày thật vui!’” (The Problem of Pain, tr. 31), thì ngay cả Ngài cũng sẽ hài lòng với sự tử tế mang tính thế tục của chúng ta.
Nhưng nếu Đức Chúa Trời chính là mặt trời chói lọi mà mọi sự trong vũ trụ đều xoay quanh thì sao? Nếu bổn phận cao cả nhất, cũng là niềm vui lớn nhất của con người, là yêu kính Ngài hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức (Mác 12:30) thì sao? Nếu chính Ngài là Đấng ban cho chúng ta từng hơi thở (Công Vụ 17:25) thì sao? Nếu Ngài ghen tương đòi hỏi vinh quang mà chỉ mình Ngài xứng đáng nhận lấy từ chúng ta (Giê-rê-mi 13:11) thì sao? Nếu toàn bộ dòng lịch sử đang tiến đến ngày mà chỉ một mình Ngài được tôn cao (Ê-sai 2:17) thì sao? Nếu đúng là như vậy, thì sẽ không có việc lành thật sự nếu không có sự thờ phượng thật sự. Và sẽ không có gì được gọi là “điều thiện” nếu nó tách rời khỏi Đức Chúa Trời.
Không lời bào chữa
Trong chính mình, chúng ta hoàn toàn hư hoại. Trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta hoàn toàn không thể làm đẹp lòng Ngài. Hai sự thật ấy dẫn chúng ta đến một kết luận thứ ba: ngoài Đấng Christ, con người đang ở dưới sự đoán phạt và không có hy vọng tự lấy cứu mình.
Thật ra, sự đoán phạt ấy đã bắt đầu rồi. Phao-lô viết: “Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời từ trên trời được tỏ bày để chống lại mọi sự vô luân và gian ác của những kẻ dùng sự gian ác mà áp chế chân lý” (Rô-ma 1:18). Được tỏ bày, chứ không phải sẽ tỏ bày. Và Đức Chúa Trời bày tỏ cơn thịnh nộ của Ngài bằng cách nào? Bằng cách phó mặc con người cho chính những tội lỗi họ khao khát. “Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những tham dục của lòng mình… Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho tình dục đáng xấu hổ… Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí bại hoại” (Rô-ma 1:24, 26, 28). Chúng ta khao khát được tự do khỏi Đức Chúa Trời mà không nhận ra rằng càng rời xa Ngài bao nhiêu, chúng ta càng khuất phục dưới ách nô lệ của tội lỗi bấy nhiêu.
Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vốn đã ở trên chúng ta (Giăng 3:36). Và trừ khi chính Đức Chúa Trời can thiệp để cất bỏ cơn thạnh nộ đó khỏi chúng ta, thì tâm trí tối tăm của chúng ta sẽ càng tối tăm hơn, tấm lòng chai cứng của chúng ta sẽ càng cứng cỏi hơn, ý tưởng lệch lạc của chúng ta sẽ càng vặn vẹo hơn. Mỗi ngày, chúng ta lao dịch để phục vụ tội lỗi của mình, trong khi miệt mài chất đầy kho của vị chủ nhân duy nhất: sự chết (Rô-ma 6:23).
Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ đứng trước vị Quan Án vĩ đại, Đấng có đôi mắt quá thanh sạch không thể nhìn xem điều ác, và trước mặt Ngài, những tội lỗi thầm kín của chúng ta đều bị phơi bày (Ha-ba-cúc 1:13; Thi Thiên 90:8). Còn hy vọng nào cho chúng ta trong khoảnh khắc đó? Mọi phần trong chúng ta đều hư hoại, và những việc làm tốt nhất của chúng ta đều không thể làm đẹp lòng Ngài, chúng ta có thể nói gì để bào chữa cho mình? Ngoài Đấng Christ, không có gì cả. Chúng ta bị kết án một cách hoàn toàn vô vọng.
Tội nhân lớn và Đấng Cứu Thế vĩ đại
Bức tranh về nhân loại dưới ách thống trị của tội lỗi thật ảm đạm – ảm đạm đến mức nhiều người chỉ muốn quay lưng đi. Nhưng nếu làm vậy, chúng ta sẽ đánh mất nguồn an ủi sâu xa nhất của mình.
Khi những người thuộc về Đấng Christ vâng theo lời dạy của Phao-lô: “Hãy nhớ lại”, và dám đối diện với tình trạng tội lỗi của chính mình, họ sẽ được dẫn đến một nơi không ngờ tới: không phải bên ngoài vườn Ê-đen với các thiên sứ canh giữ lối vào, không phải bên bờ hồ lửa với những ngọn lửa báo trước sự phán xét, nhưng là dưới bầu trời u ám của đồi Gô-gô-tha, nơi “khi chúng ta còn là tội nhân thì Đấng Christ đã chết thay cho chúng ta” (Rô-ma 5:8). Khi chúng ta không thể thoát khỏi sự hư hoại của mình, không thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời và cũng không thể thoát khỏi sự đoán phạt, thì Con Đức Chúa Trời đã đổ chính huyết báu của Ngài vì chúng ta.
Khi nhớ lại tội lỗi của mình theo cách ấy, chúng ta không bị đẩy vào tuyệt vọng, mà trái lại càng thêm vững lòng trong sự cứu rỗi. Bởi nếu Đấng Christ đã yêu thương chúng ta khi chúng ta còn chống nghịch và xa cách Ngài, thì chẳng lẽ bây giờ Ngài lại không tiếp tục yêu thương chúng ta sao? (Rô-ma 5:10). Tội lỗi nhắc nhở chúng ta rằng tình yêu của Đức Chúa Trời chưa bao giờ dựa trên bất cứ công trạng nào nơi chúng ta, mà luôn đặt nền trên công việc trọn vẹn của Đấng Christ.
John Newton đã nói trong những ngày cuối đời: “Tôi là một tội nhân lớn, và Đấng Christ là một Đấng Cứu Thế vĩ đại.” Hai lời khẳng định ấy luôn song hành với nhau. Nếu tội lỗi của chúng ta chỉ là chuyện nhỏ, thì Đấng Cứu Thế của chúng ta cũng sẽ trở nên nhỏ bé trong mắt chúng ta. Nhưng nếu chúng ta thật sự nhận biết mình là kẻ hư hoại, đáng bị loại bỏ và xứng đáng với án phạt, thì chẳng có mỹ từ nào đủ để ngợi khen Đấng Christ. Khi ấy, những suy ngẫm của chúng ta về Ngài sẽ không bao giờ là quá lớn lao!
Bài: Scott Hubbard; dịch: Esther Võ
(Nguồn: desiringgod.org)

Leave a Reply