Nỗi thống khổ và đau đớn của Nhà Truyền giáo Mục sư Charles Spurgeon

Oneway.vn – Bệnh gout khiến ông suy kiệt, những lời vu khống độc địa, chứng trầm cảm tái diễn – Spurgeon đã trải qua tất cả. Đức tin của ông đã chịu ảnh hưởng thế nào từ những điều đó?

Mục sư ​Charles Haddon Spurgeon (1834-1892)

Bạn bè của Spurgeon, thậm chí cả những người chỉ quen biết sơ, thường nhắc đến tiếng cười sảng khoái của ông. Khiếu hài hước ấy cũng xuất hiện trong các bài giảng và tác phẩm của ông, điều đôi khi khiến ông bị chỉ trích. Spurgeon đáp rằng nếu những người chỉ trích biết ông đã phải kìm lại bao nhiêu sự hài hước, có lẽ họ sẽ im lặng.

Nhưng đồng thời, cuộc đời Spurgeon lại thấm đẫm đau khổ. Chúng ta biết khá rõ về những đau khổ ấy nhờ những mô tả thường xuyên và thẳng thắn của chính ông.

Spurgeon đã chịu những nỗi thống khổ nào? Và ông dung hòa những trải nghiệm đau đớn ấy với niềm tin của mình nơi một Đức Chúa Trời đầy ân điển ra sao?

Những đau đớn thuộc linh

Dù có nguy cơ đơn giản hóa vấn đề, chúng ta có thể chia những đau khổ của Spurgeon thành ba nhóm: thuộc linh, cảm xúc và thể chất – dù giữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau.

Những đau khổ thuộc linh của Spurgeon bắt đầu rõ rệt nhất khoảng năm năm trước khi ông tin Chúa. Trong suốt chức vụ, ông nhiều lần nhắc lại nỗi kinh hoàng mà mình đã trải qua trong năm năm bị cáo trách sâu sắc về tội lỗi: về mặt lý trí, ông hiểu Phúc Âm, nhưng lại mù lòa trước việc áp dụng Phúc Âm ấy cho chính mình.

Ông nhớ lại: “Sự công chính của Đức Chúa Trời, như một lưỡi cày, xé nát tâm linh tôi. Tôi bị kết án, tiêu tan, hủy diệt,  lạc mất, bất lực, tuyệt vọng tôi nghĩ địa ngục đang ở trước mặt mình… Tôi cầu nguyện nhưng không tìm thấy câu trả lời đem lại bình an. Tình trạng ấy kéo dài với tôi rất lâu.”

Đối với Spurgeon, không đau khổ nào ông chịu về sau có thể sánh với sự cay đắng tàn khốc ấy trong tâm hồn. Những đau khổ thuộc linh đó dạy ông ghê tởm sự ô uế của tội lỗi và quý trọng sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Đồng thời, chúng cũng làm nảy sinh trong ông một niềm vui thiên thượng về sự cứu rỗi của mình.

Vu khống và khinh miệt

Trong những năm đầu ở London, Spurgeon phải chịu những lời vu khống và khinh miệt dữ dội. Năm 1881, khi nhìn lại những năm ấy, ông nói:

“Nếu tôi có thể thật lòng nói: ‘Ba mươi năm trước tôi đã được chôn với Đấng Christ’, thì chắc chắn tôi phải là người đã chết. Thế gian rõ ràng cũng nghĩ như vậy, vì không lâu sau khi được ‘chôn’ với Chúa Jêsus, tôi bắt đầu rao giảng danh Ngài, và lúc ấy thế gian nghĩ rằng tôi đã đi quá xa rồi, họ nói: ‘Hắn đã bốc mùi.’ Họ bắt đầu nói đủ mọi điều xấu xa về người giảng đạo; nhưng tôi càng ‘bốc mùi’ trong mũi họ thì tôi lại càng thích, bởi điều đó càng khiến tôi chắc chắn rằng mình thật sự đã chết đối với thế gian.”

Tuy nhiên, vào chính thời điểm đó, Spurgeon dao động giữa việc vui mừng vì sự bắt bớ và việc hoàn toàn bị nó nghiền nát. Năm 1857, ông vật lộn với cảm xúc của mình:

“Không biết bao nhiêu lần tôi đã quỳ sụp xuống, mồ hôi nóng toát ra trên trán vì một lời vu khống mới vừa đổ xuống trên mình; trong nỗi đau quằn quại, lòng tôi gần như tan vỡ… Tôi hy vọng mình có thể nói điều này từ tận đáy lòng: Nếu một lần nữa bị xem như bùn ngoài đường, nếu một lần nữa trở thành trò cười của kẻ ngu và bài hát của kẻ say, nhưng điều đó khiến tôi có ích hơn cho Chủ mình và hữu dụng hơn cho công việc Ngài, thì tôi sẽ chọn điều đó hơn tất cả đám đông này hay mọi lời tung hô mà con người có thể dành cho tôi.”

Gánh nặng của việc rao giảng Phúc Âm

Ngay từ đầu chức vụ, Spurgeon đã thu hút những đám đông khổng lồ tại những nơi như Exeter Hall và Royal Surrey Gardens Music Hall. Bề ngoài, ông có vẻ tràn đầy tự tin, nhưng thực tế bên trong ông lại đầy lo sợ.

Năm 1861, ông nói: “Các chấp sự của tôi biết rất rõ rằng khi tôi mới giảng tại Exeter Hall, hầu như lần nào họ để tôi ở một mình khoảng mười phút trước giờ nhóm, họ cũng sẽ thấy tôi trong tình trạng buồn nôn khủng khiếp, do ý nghĩ nặng nề về trách nhiệm trong mình…”

Spurgeon mang trong lòng nỗi lo âu lớn, nhưng điều ấy không đến nhiều từ đám đông bằng từ trách nhiệm đáng sợ rằng ông sẽ phải khai trình với Đức Chúa Trời về linh hồn của rất nhiều người.

Đây vẫn là một nguồn đau khổ thuộc linh sâu sắc trong suốt chức vụ của ông. Năm 1883, ông nói:

“Tôi đã rao giảng Phúc Âm hơn ba mươi năm rồi, và… rất nhiều lần khi bước xuống bục giảng này, tôi cảm thấy hai đầu gối mình va vào nhau, không phải vì tôi sợ bất kỳ thính giả nào, nhưng vì tôi nghĩ đến việc mình phải khai trình trước Đức Chúa Trời rằng tôi có trung tín nói Lời Ngài hay không.”

Thứ thách cảm xúc bởi tiếng hô “cháy!”

Tối ngày 19 tháng 10 năm 1856, Spurgeon chuẩn bị bắt đầu các buổi nhóm hằng tuần tại Royal Surrey Gardens Music Hall.

Sáng hôm đó, ông giảng tại New Park Street Chapel từ Ma-la-chi 3:10 với câu:

“Hãy thử Ta.”

Với một giọng điệu mang tính tiên báo đầy lạnh người, ông tuyên bố:

“… Có thể tôi sẽ được kêu gọi đứng nơi mây giông đang tụ lại, nơi chớp lóe sáng, nơi gió bão gào thét trên đỉnh núi. Vậy thì tốt thôi, tôi sinh ra để chứng minh quyền năng và sự uy nghi của Đức Chúa Trời chúng ta; giữa nguy hiểm, Ngài sẽ ban cho tôi lòng can đảm; giữa gian khó, Ngài sẽ khiến tôi mạnh mẽ… Tối nay chúng ta sẽ nhóm lại nơi một đám đông chưa từng có sẽ tụ họp, có lẽ chỉ vì tò mò nhàn rỗi, để nghe Lời Đức Chúa Trời; và có một tiếng nói vang bên tai tôi: ‘Hãy thử Ta ngay bây giờ’… Hãy xem Đức Chúa Trời có thể làm gì, ngay khi một đám mây đang đổ xuống trên đầu người mà Đức Chúa Trời đã dấy lên để giảng cho các bạn…”

Tối hôm đó, Surrey Hall, nơi có sức chứa lên đến 12.000 người, chật kín, trong khi khoảng 10.000 người khác đứng trong khu vườn bên ngoài.

Buổi nhóm đang diễn ra thì trong lúc Spurgeon cầu nguyện, một số kẻ ác ý bất ngờ la lên: “Cháy! Các ban công đang sập!”

Trong cơn hoảng loạn xảy ra sau đó, bảy người thiệt mạng và 28 người phải nhập viện vì thương tích nghiêm trọng.

Spurgeon hoàn toàn suy sụp. Người ta phải khiêng ông khỏi bục giảng và đưa đến nhà một người bạn, nơi ông ở lại vài ngày trong trạng thái trầm uất sâu sắc.

Sau này ông nói: “Có lẽ chưa từng có linh hồn nào tiến gần đến lò lửa thiêu đốt của sự điên loạn đến thế mà vẫn bước ra không hề hấn.”

Cuối cùng ông tìm thấy sự an ủi trong câu Kinh Thánh:

“Vì vậy, Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh.”

Spurgeon chỉ là một người lính; Chúa mới là vị Tướng của đạo quân, vì vậy chiến thắng đã được bảo đảm.

Dẫu vậy, cho đến tận lúc Spurgeon qua đời, bóng ma của thảm họa ấy vẫn ám ảnh ông đến mức một người bạn thân đồng thời là người viết tiểu sử ông suy đoán:

“Từ những gì tôi chứng kiến, tôi không thể không nghĩ rằng cái chết tương đối sớm của ông có thể phần nào là hậu quả của lò lửa đau khổ tinh thần mà ông đã chịu trong và sau đêm kinh hoàng ấy.”

Trầm cảm

Nếu Spurgeon đã từng biết đến trầm cảm trước đó, thì sau thảm họa Surrey Hall, nó trở thành một ‘người bạn đồng hành’ thường xuyên và dai dẳng hơn.

Tháng 10 năm 1858, ông trải qua đợt bệnh đầu tiên khiến mình mất khả năng hoạt động kể từ khi đến London. Sau khi vắng mặt trên bục giảng ba Chúa Nhật, ông trở lại và giảng từ I Phi-e-rơ 1:6:

“Hãy vui mừng về điều ấy, dù bây giờ anh em còn chịu đau buồn trong ít lâu bởi muôn vàn thử thách.”

Trong bài giảng có tựa đề “Nỗi Buồn và Niềm Vui của Cơ Đốc nhân”, Spurgeon nói rằng trong thời gian bệnh, khi:

“tinh thần tôi sa sút đến mức tôi có thể khóc hàng giờ như một đứa trẻ mà chính tôi cũng không biết mình khóc vì điều gì… một người bạn tốt bụng kể cho tôi nghe về một cụ bà nghèo sống gần đó, đang chịu đau đớn dữ dội nhưng lại tràn đầy vui mừng. Nghe câu chuyện ấy khiến tôi vô cùng đau khổ và rất xấu hổ về chính mình…”

Khi ông đang vật lộn với sự tương phản giữa chứng trầm cảm của mình và niềm vui mà người phụ nữ mắc ung thư ấy bày tỏ:

“câu Kinh Thánh này bỗng lóe lên trong tâm trí tôi với ý nghĩa thật của nó… rằng đôi khi một Cơ Đốc nhân không nhất thiết phải chịu đau khổ với tấm lòng đầy khí phách và vui vẻ”, nhưng “đôi khi tinh thần người ấy có thể sa sút, và người ấy trở nên như một đứa trẻ nhỏ bị đánh dưới tay Đức Chúa Trời.”

Quả thật, Spurgeon thường xuyên ở trong trạng thái “buồn rầu”.

Đôi khi chứng trầm cảm của ông là kết quả trực tiếp từ nhiều bệnh tật khác nhau, có thể về mặt tâm lý, và trong trường hợp bệnh gout, có lẽ còn liên quan đến sinh lý.

Dẫu vậy, Spurgeon xem chứng trầm cảm của mình là “đặc điểm tệ nhất” và từng nói:

“Sự tuyệt vọng không phải là một đức hạnh; tôi tin nó là một thói xấu. Tôi hết sức xấu hổ về bản thân vì rơi vào nó, nhưng tôi tin chắc rằng không có phương thuốc nào tốt hơn cho nó ngoài đức tin thánh khiết nơi Đức Chúa Trời.”

Spurgeon tự an ủi khi nhận ra rằng chính chứng trầm cảm ấy trang bị cho ông để phục vụ người khác hiệu quả hơn:

“Tôi sẵn sàng đi xuống vực sâu một trăm lần để có thể khích lệ một linh hồn đang nản lòng. Việc tôi từng chịu khổ là điều tốt cho tôi, để tôi biết cách nói một lời đúng lúc với người mệt mỏi.”

Những gánh nặng trong chức vụ

Những đợt trầm cảm tái diễn của Spurgeon càng trở nên nặng nề bởi vô số trách nhiệm mà ông đảm nhận.

Có lần ông nói:

“Không một người nào đang sống biết được khối lượng lao nhọc và lo toan mà tôi phải mang. Tôi không xin sự cảm thông, chỉ xin sự rộng lượng nếu đôi khi tôi quên một điều gì đó. Tôi phải trông coi cô nhi viện, chăm sóc một Hội Thánh có bốn nghìn thành viên; đôi khi còn có hôn lễ và tang lễ phải lo; bài giảng hằng tuần phải được chỉnh sửa; tạp chí The Sword and the Trowel phải được biên tập; và ngoài tất cả những điều ấy, trung bình mỗi tuần tôi còn phải trả lời năm trăm lá thư.”

Năm 1872, ông khẳng định: “Chức vụ là một công việc làm hao mòn trí óc, căng thẳng trái tim và rút cạn sự sống của một người nếu người ấy thực hiện nó đúng như mình phải làm.”

Tuy nhiên, ông từ chối giảm tốc độ.

Trong đợt bệnh nghiêm trọng đầu tiên vào tháng 10 năm 1858, Spurgeon viết cho Hội Thánh và độc giả của mình: “Đừng cho rằng căn bệnh này là vì tôi đã làm việc quá sức cho Chủ mình. Vì cớ Ngài yêu dấu, tôi chỉ ước rằng mình còn có thể lao nhọc nhiều hơn nữa.”

Sau này trong một bài giảng, ông nói: “Tôi thấy thương cho những người nói: ‘Đừng giảng thường xuyên quá, ông sẽ tự giết mình mất.’ Ôi Đức Chúa Trời tôi! Phao-lô sẽ nói gì nếu nghe một điều như thế?”

Spurgeon xác định rằng sự lao nhọc và thống khổ ấy, dù gây tổn hại thể chất, vẫn phải được thực hiện: 

“Tất cả chúng ta đều quá bận tâm với việc chăm sóc bản thân; chúng ta tránh những khó khăn của sự lao nhọc quá mức. Và rất thường xuyên, đằng sau những chiến hào của việc ‘giữ gìn sức khỏe’, chúng ta chẳng làm được đến một nửa điều mình đáng ra phải làm. Một người hầu việc Đức Chúa Trời phải khước từ những lời gợi ý của sự nhàn hạ thấp hèn; sự kêu gọi của người ấy là lao nhọc; và nếu điều đó phá hủy sức khỏe của người ấy, thì riêng tôi chỉ cảm tạ Đức Chúa Trời vì Ngài cho phép chúng ta có đặc ân cao quý được biến chính mình thành của lễ sống như vậy.”

Bệnh gout

Căn bệnh hành hạ Spurgeon nặng nề nhất là gout, một bệnh đôi khi gây ra những cơn đau khủng khiếp.

Điều có thể xác định rõ ràng là bệnh gout đã tấn công Spurgeon vào năm 1869, khi ông 35 tuổi. Trong phần đời còn lại, gần như năm nào ông cũng phải tạm dừng công việc trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng, vì nhiều căn bệnh khác nhau.

Không gian bài viết không cho phép kể lại dù chỉ một bản rút gọn về toàn bộ những đau khổ thể xác của ông. Tuy nhiên, chúng ta phần nào cảm nhận được qua bài viết trên The Sword and the Trowel năm 1871:

“Có thể xoay người đổi bên khi nằm trên giường là một sự thương xót lớn… Bạn đã bao giờ phải nằm nguyên một bên suốt một tuần chưa? Bạn đã từng cố xoay người rồi nhận ra mình hoàn toàn bất lực chưa? Người khác có từng phải nhấc bạn lên, rồi qua lòng tốt của họ lại khiến bạn nhận ra một sự thật khốn khổ rằng họ phải lập tức đặt bạn trở lại đúng tư thế cũ, bởi dù nó tệ đến đâu, nó vẫn tốt hơn mọi tư thế khác?… Có thể ngủ được một giờ vào ban đêm là một sự thương xót lớn… Tôi đã cảm thấy thật là một sự thương xót khi mỗi lần chỉ có một đầu gối bị hành hạ. Thật là một phước lành khi lại có thể đặt chân xuống đất, dù chỉ một phút!”

Vài tháng sau, trong một bài giảng, ông mô tả một trải nghiệm trong giai đoạn đau đớn ấy:

“Vài tháng trước, khi tôi bị đau đớn hành hạ đến mức cực độ, đến nỗi không thể chịu nổi nữa mà phải kêu lên, tôi yêu cầu mọi người rời khỏi phòng và để tôi ở một mình. Khi ấy tôi không thể nói gì với Đức Chúa Trời ngoài những lời này: ‘Ngài là Cha con, còn con là con của Ngài; và Ngài, với tư cách một người Cha, đầy dịu dàng và thương xót. Con không thể chịu nổi khi nhìn thấy con mình đau đớn như Ngài đang để con chịu đau đớn; nếu con thấy nó bị hành hạ như con đang chịu bây giờ, con sẽ làm mọi điều có thể để giúp nó, và sẽ đưa tay đỡ lấy nó. Cha ơi, Ngài sẽ ẩn mặt khỏi con sao? Ngài vẫn đặt bàn tay nặng nề trên con mà không ban cho con một nụ cười từ dung nhan Ngài sao?’”

Ông tiếp tục:

“… Tôi đã nài xin như vậy, rồi khi bình tĩnh trở lại và những người chăm sóc quay vào, tôi mạnh dạn nói: ‘Từ giây phút này tôi sẽ không bao giờ còn chịu cơn đau như thế nữa, vì Đức Chúa Trời đã nghe lời cầu nguyện của tôi.’ Tôi chúc tụng Đức Chúa Trời vì sự nhẹ nhõm đã đến và cơn đau xé nát ấy không bao giờ quay lại.”

Ông thường xuyên nhắc lại sự việc này, dù không thể xác định liệu bệnh gout của ông có thật sự chưa bao giờ đau dữ dội như trong lần ấy nữa hay không.

Từ năm 1871 trở đi, Spurgeon hiếm khi hoàn toàn không đau. Khoảng thời gian giữa những lần buộc phải nghỉ ngơi ngày càng ngắn hơn, và tình trạng của ông cũng phức tạp hơn khi các triệu chứng của bệnh Bright – viêm thận mãn tính – bắt đầu xuất hiện.

Từ thập niên 1870, Spurgeon thường xuyên đến Mentone, miền nam nước Pháp, để hồi phục và dưỡng sức.

Những năm cuối đời đầy đau đớn về thể chất của Spurgeon cần được nhìn trong bối cảnh Cuộc Tranh luận Down-Grade.

Ngay đầu cuộc tranh luận, ông nói rằng mình đã:

“chịu mất tình bạn và danh tiếng, chịu việc người ta rút lại sự hỗ trợ tài chính và những lời trách móc cay nghiệt… Nhưng không ai có thể đo được cái giá đau đớn mà điều này đã khiến tôi phải trả.”

Tháng 5 năm 1891, ông nói với một người bạn: “Tạm biệt; anh sẽ không bao giờ gặp lại tôi nữa đâu. Cuộc chiến này đang giết chết tôi.”

Susannah Spurgeon – vợ của Mục sư Charles Spurgeon cũng trải qua những thời kỳ sức khỏe suy yếu. Giống như chồng, bà vẫn tìm cách làm việc hiệu quả một cách đáng kinh ngạc bất chấp bệnh tật. Chẳng hạn, bà thành lập và điều hành một quỹ sách, qua đó phân phát vô số tác phẩm thần học cho những mục sư không đủ khả năng mua chúng.

Đức Chúa Trời ở đâu trong đau khổ?

Nguồn: The Baptist Page

Spurgeon luôn giữ vững niềm tin rằng vì Đức Chúa Trời là Đấng tể trị, nên không có điều gì thật sự là “tai nạn”.

Tuy nhiên, điều này không phải là thuyết định mệnh: “Định mệnh thì mù lòa; sự quan phòng có mắt.”

Niềm tin không lay chuyển vào quyền tể trị của Đức Chúa Trời là điều thiết yếu đối với Spurgeon:

“Đối với tôi, sẽ là một trải nghiệm vô cùng cay đắng và thử thách nếu phải nghĩ rằng mình đang chịu một hoạn nạn mà Đức Chúa Trời chưa từng gửi đến; rằng chén đắng này chưa từng được tay Ngài rót đầy; rằng những thử thách của tôi chưa từng được Ngài đo lường, chưa từng được gửi đến theo sự sắp đặt của Ngài về trọng lượng và mức độ của chúng.”

Vì vậy, ông có khuynh hướng ít tập trung vào các nguyên nhân trước mắt.

Năm 1868 ông giảng:

“Nếu bạn uống nước từ dòng sông hoạn nạn gần nơi nó đổ ra biển, nước ấy sẽ lợ và khó uống; nhưng nếu bạn lần theo dòng sông trở về nguồn, nơi nó phát xuất dưới chân ngai Đức Chúa Trời, bạn sẽ thấy nước ấy ngọt ngào và đem lại sự sống.”

Năm 1873, ông giải thích:

“Bao lâu tôi còn quy nỗi đau của mình cho tai nạn, sự mất mát người thân cho một sai lầm, thiệt hại của mình cho sự sai trái của người khác, sự khó chịu của mình cho kẻ thù, v.v., thì tôi vẫn thuộc về đất, mang bản chất của đất, và sẽ phải nghiến răng trên sỏi đá; nhưng khi tôi hướng lên Đức Chúa Trời và nhìn thấy bàn tay Ngài đang hành động, tôi trở nên bình tĩnh, tôi không còn một lời than phiền nào.”

Dẫu vậy, sự tin chắc vào quyền tể trị và tình yêu của Đức Chúa Trời như một người Cha không ngăn Spurgeon đôi khi hỏi: “Tại sao?”

Điều này đặc biệt xảy ra khi ông bị buộc phải dừng công việc vào những thời điểm mà ông cho là rất quan trọng đối với chức vụ.

Trong The Sword and the Trowel năm 1876, ông đặt câu hỏi trong một bài viết có tựa đề “Bị Đặt Sang Một Bên. Tại Sao?”

Spurgeon tự trả lời rằng những thời điểm như vậy là:

“cách chắc chắn nhất để dạy chúng ta rằng mình không phải là người không thể thiếu đối với công việc của Đức Chúa Trời, và rằng ngay cả khi chúng ta đang hữu dụng nhất, Ngài vẫn có thể dễ dàng thực hiện công việc mà không cần chúng ta.”

Tại đây cũng như nhiều nơi khác, Spurgeon ghi nhận những ích lợi tiềm tàng của đau khổ.

Trong một bài giảng xuất bản năm 1881, ông khẳng định:

“Bản thân đau đớn sẽ không thánh hóa bất kỳ ai: thậm chí nó có thể khiến người ấy khép kín trong chính mình, trở nên cáu kỉnh, khó chịu và ích kỷ; nhưng khi Đức Chúa Trời ban phước cho nó, nó sẽ đem lại một ảnh hưởng vô cùng lành mạnh, một ảnh hưởng gọt giũa và làm mềm mại.”

Chưa đầy một năm trước khi qua đời, Spurgeon nói về tiến trình ấy trong bài giảng mang tên “Dân Đức Chúa Trời Được Nấu Chảy và Thử Luyện”.

Ông hỏi:

“Các bạn thân mến, bạn đã bao giờ ở trong nồi luyện chưa? Tôi đã từng ở đó, cùng với các bài giảng của mình, trạng thái tâm linh và cảm xúc của mình, cùng tất cả những việc lành mình đã làm. Chúng dường như lấp đầy cả nồi cho đến khi lửa bùng lên, rồi tôi nhìn xem còn điều gì chưa bị thiêu cháy; và nếu không có một đức tin đơn sơ nơi Chúa Jêsus Christ của tôi, tôi e rằng mình sẽ chẳng tìm thấy gì còn lại…”

Ông tiếp tục:

“Kết quả của quá trình nấu chảy là chúng ta đạt đến sự đánh giá đúng đắn về mọi sự, và chúng ta được đổ ra trong một hình dạng mới và tốt đẹp hơn. Ôi, chúng ta gần như có thể mong ước được vào nồi luyện nếu nhờ đó chúng ta loại bỏ được cặn bã, nếu chúng ta trở nên tinh sạch, nếu chúng ta được uốn nắn ngày càng giống Chúa mình hơn!”

Ở đây chúng ta thấy một nghịch lý kỳ diệu trong thần học được sống ra bằng kinh nghiệm của Spurgeon.

Ông thành thật thừa nhận mình sợ đau khổ và sẽ làm bất cứ điều gì hợp lẽ để tránh nó. Nhưng khi không ở giữa cơn đau dữ dội, ông lại khao khát những gì đau khổ có thể tạo ra.

Ông nói:

“Con đường dẫn đến đức tin mạnh mẽ hơn thường đi qua lối gập ghềnh của đau buồn… Tôi e rằng tất cả ân điển mình nhận được từ những thời kỳ thoải mái, dễ dàng và những giờ phút hạnh phúc có lẽ chỉ đủ đặt trên một đồng xu. Nhưng điều tốt lành tôi nhận được từ những nỗi buồn, đau đớn và thống khổ thì hoàn toàn không thể tính hết…”

Và: “Hoạn nạn là món đồ nội thất tốt nhất trong ngôi nhà của tôi. Nó là cuốn sách hay nhất trong thư viện của một mục sư.”

Chúng ta không thể hy vọng hiểu được những đau khổ của Spurgeon nếu không thoáng nhìn thấy sự thân mật sâu sắc trong mối quan hệ giữa ông với Cứu Chúa của mình.

Ngày 7 tháng 6 năm 1891, trong lúc chịu đau đớn thể xác dữ dội vì bệnh tật, Spurgeon giảng điều mà chính ông không biết sẽ trở thành bài giảng cuối cùng của mình.

Những lời kết thúc cuối cùng của ông trên bục giảng, như thường lệ, nói về Chúa của mình:

“Ngài là vị Tướng cao thượng nhất. Giữa những vị vua chúa xuất sắc nhất, chưa từng có ai giống Ngài. Ngài luôn ở nơi trận chiến dữ dội nhất. Khi gió lạnh thổi đến, Ngài luôn đứng ở phía trơ trọi nhất của ngọn đồi. Phần nặng nhất của thập tự giá luôn nằm trên vai Ngài. Nếu Ngài bảo chúng ta mang một gánh nặng, chính Ngài cũng mang gánh ấy.”

“Nếu có bất cứ điều gì đầy ân điển, rộng lượng, nhân từ, dịu dàng, phải, một tình yêu dư dật và tràn đầy, bạn luôn tìm thấy điều ấy nơi Ngài.”

“Hơn bốn mươi năm qua tôi đã phục vụ Ngài, đáng chúc tụng danh Ngài! Và tôi chẳng nhận được gì ngoài tình yêu từ Ngài. Tôi sẽ vui lòng tiếp tục thêm bốn mươi năm nữa trong sự phục vụ yêu dấu ấy trên đất này nếu điều đó đẹp lòng Ngài.”

“Sự phục vụ Ngài là sự sống, bình an và vui mừng. Ôi, ước gì bạn bước vào sự phục vụ ấy ngay hôm nay! Xin Đức Chúa Trời giúp bạn gia nhập dưới ngọn cờ của Chúa Jêsus ngay trong ngày này! A-men.”

Bài: Darrel W. Amundsen

Tiến sĩ Darrel W. Amundsen từng là giáo sư ngành Cổ điển học tại Western Washington University và là đồng biên tập cuốn Caring and Curing (Macmillan, 1988).

Bản quyền © 1991 thuộc về tác giả hoặc tạp chí Christianity Today/Christian History.


Posted

in

,

by

Tags:

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *