Định hướng nghề nghiệp theo ý Chúa

Oneway.vn – Chúa đặt để con người trong nhiều lĩnh vực công việc khác nhau để qua đó đem lại ích lợi cho thế giới.

ảnh minh hoạ

Khi đứng trước những lựa chọn về nghề nghiệp, mục sư Keller cho rằng có ít nhất hai cách đặt câu hỏi rất khác nhau: 

(1) Công việc nào sẽ giúp tôi kiếm được nhiều tiền nhất và có được vị thế cao nhất? 

(2) Với khả năng và những cơ hội mình đang có, tôi có thể phục vụ người khác tốt nhất ở đâu, dựa trên những gì tôi hiểu về ý muốn của Chúa và nhu cầu thực tế của con người? 

Tuy nhiên, có một điều đáng chú ý trong hai cách suy nghĩ này, và nó có thể hoàn toàn trái với điều chúng ta vẫn thường cho là đúng:

Chính câu hỏi thứ hai mới tạo nên một động lực bền vững hơn để chúng ta làm việc cách kỷ luật và hết mình. Nếu làm việc chỉ để phục vụ và đề cao bản thân, chúng ta sẽ dần không còn chú tâm vào chính công việc mình làm, mà chỉ chăm chăm vào thành công của bản thân. Sự nhiệt thành có thể biến thành tham vọng bất chấp, động lực tiến lên có thể đẩy chúng ta đến kiệt sức, còn việc luôn cố dựa vào sức riêng có thể khiến chúng ta ngày càng khắt khe, thậm chí chán ghét chính mình. Nhưng nếu làm việc để phục vụ và tôn vinh Đấng lớn hơn chính mình, chúng ta sẽ có một lý do vững chắc hơn để phát huy tài năng, theo đuổi những hoài bão và nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo, dấn thân. Và về lâu dài, chúng ta thậm chí còn có nhiều khả năng đạt được điều mà thế gian vẫn gọi là “thành công”.

Miễn là công việc đó không đi ngược lại những nguyên tắc đạo đức, thì không có một công thức duy nhất áp dụng cho tất cả mọi người khi lựa chọn nghề nghiệp. Dựa trên cách phân loại của John Newton và điều chỉnh cho phù hợp, mục sư Keller chỉ ra ba yếu tố thường giúp chúng ta nhận biết một “khải tượng” hay ơn gọi của mình: 

  • Sự yêu thích: Bạn có thật sự thích công việc đó không? 
  • Năng lực: Những người xung quanh có nhận thấy rằng bạn có khả năng làm tốt công việc ấy không? 
  • Cơ hội: Có một cánh cửa thực tế nào đang mở ra cho bạn không? 

Trong cuốn sách “Đời Sống Cơ Đốc Theo Tim Keller”, Matt Smethurst đúc kết hơn 40 năm giảng dạy của Tim Keller theo từng chủ đề, từ những tác phẩm nổi tiếng đến các bài giảng, những bài thảo luận tại hội nghị và những cuộc phỏng vấn ít được biết đến. Qua đó, ông đem đến những chỉ dẫn sâu sắc và thực tế cho các thế hệ độc giả đang mong muốn trưởng thành hơn trong hành trình theo Chúa Jêsus.

Lý tưởng nhất là cả ba yếu tố trên đều hiện diện – với một số ơn gọi, cả ba yếu tố đều không thể thiếu. Tuy nhiên, trong một nền văn hóa luôn khuyến khích chúng ta nhìn vào bên trong và “khám phá bản thân”, chúng ta cần cẩn trọng để không đặt quá nhiều trọng tâm vào niềm đam mê đối với một nghề nghiệp cụ thể. Keller cho rằng điều này phần nào giống với hôn nhân: cảm xúc và sự say mê có thể thay đổi theo thời gian. Điều giúp chúng ta bền lòng không chỉ là cảm xúc nhất thời, mà là sự cam kết và niềm hy vọng. Mục sư Keller tiếp tục suy ngẫm:

Lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng Hoảng và trải qua hai cuộc thế chiến, thế hệ cha mẹ và ông bà tôi cảm thấy biết ơn chỉ vì có một công việc để làm, bởi công việc ấy giúp họ nuôi sống bản thân và gia đình. Nhưng thế hệ con cái tôi lại nhìn công việc rất khác. Họ mong công việc phải đem đến sự thỏa nguyện và tạo ra kết quả có ý nghĩa; phải phù hợp với tài năng và ước mơ của họ; thậm chí phải giúp họ “đóng góp những điều tuyệt vời cho thế giới”, như cách một lãnh đạo cấp cao của Google từng mô tả về sứ mệnh của công ty mình… Nếu những hoàn cảnh đã định hình thế hệ cha mẹ tôi khiến họ có phần xem nhẹ ý nghĩa của công việc so với bức tranh Kinh Thánh trình bày về sự sáng tạo, thì thế hệ con cái tôi lại có xu hướng nhìn công việc quá lý tưởng và thiếu thực tế so với những gì Kinh Thánh nói về một thế giới đã sa ngã.

Dù vậy, Chúa vẫn tạo dựng mỗi người với những đặc điểm riêng và ban cho chúng ta những khả năng khác nhau. Một trong những minh họa Keller đặc biệt yêu thích về điều này đến từ bộ phim “Chariots of Fire” (Những Cỗ Xe Rực Lửa), dựa trên câu chuyện có thật của vận động viên Olympic Eric Liddell. Trong một phân cảnh, Liddell trò chuyện với em gái mình là Jennie. Cô lo rằng niềm đam mê chạy bộ đang khiến anh xao nhãng việc chuẩn bị cho sứ mạng truyền giáo tại Trung Quốc. Cuối cùng, Liddell nói với cô: “Jennie… anh tin Chúa đã tạo dựng anh cho… Trung Quốc. Nhưng Ngài cũng tạo dựng anh để chạy thật nhanh. Và khi anh chạy, anh cảm nhận được sự vui lòng của Ngài.” 

Trong khi đó, một vận động viên khác là Harold Abrahams lại tâm sự với huấn luyện viên: “Tôi đã hai mươi bốn tuổi mà chưa bao giờ thật sự biết thế nào là thỏa lòng. Tôi cứ mãi chạy theo một điều gì đó, nhưng chính mình cũng không biết đó là gì.”

Bạn có nhận ra sự tương phản không? Abrahams đặt niềm hy vọng tìm thấy sự thỏa lòng và ý nghĩa sống nơi đường chạy. Vì thế, chẳng có gì lạ khi ngay trước cuộc đua, anh nói với huấn luyện viên: “Tôi chỉ có mười giây để chứng minh rằng đời mình có ý nghĩa.” Nhưng Liddell thì khác. Anh không để thể thao làm chủ đời mình. Điều đó thể hiện rõ khi anh sẵn sàng từ bỏ cơ hội giành huy chương vàng vì tin rằng mình không nên thi đấu vào ngày Chúa Nhật.

Hai người có rất nhiều điểm giống nhau: cùng niềm đam mê, cùng môn thể thao, cùng nội dung thi đấu, cùng quá trình tập luyện và cùng đứng trước cơ hội chiến thắng. Thế nhưng giữa họ lại có một khác biệt rất lớn: Abrahams phải thắng. Anh đặt toàn bộ giá trị của bản thân vào chiến thắng ấy. Còn Liddell có thể sẵn sàng từ bỏ cuộc đua nếu lương tâm không cho phép anh thi đấu.

Trong mắt đám đông đang reo hò, cả hai có thể chẳng khác nhau là bao. Nhưng với Abrahams, anh chạy để tìm kiếm điều có thể chứng minh giá trị của đời mình; còn với Liddell, chạy là một cách để thờ phượng Chúa. Như Keller diễn đạt: “Abrahams vẫn mệt mỏi ngay cả khi nghỉ ngơi. Còn Liddell vẫn có sự yên nghỉ ngay cả khi anh đang chạy.”

Một lần nữa, nếu không nhìn công việc dưới ánh sáng Kinh Thánh, chúng ta rất dễ rơi vào một trong hai thái cực: hoặc xem công việc chỉ là gánh nặng phải chịu và làm cho qua chuyện, hoặc lao vào công việc quá mức đến nỗi biến nó thành thước đo giá trị của bản thân. Trong cả hai trường hợp, công việc cuối cùng vẫn xoay quanh chính chúng ta. Giống như Harold Abrahams, chúng ta trở thành nô lệ cho điều Keller gọi là “công việc đằng sau công việc” – cuộc vật lộn không ngừng để chứng minh giá trị của bản thân, hoặc để chống chọi với cảm giác thất vọng và tuyệt vọng khi công việc không đem lại điều mình mong đợi. Rốt cuộc, điều chúng ta cần cho “công việc đằng sau công việc” là một sự yên nghỉ mà không kỳ nghỉ nào có thể đem lại. Bởi chỉ trong Chúa Jêsus, chúng ta mới tìm thấy “sự yên nghỉ đằng sau sự nghỉ ngơi”:

Ngài là người Chủ duy nhất không đòi hỏi bạn phải làm việc đến kiệt sức, và cũng là Đấng duy nhất không cần bạn phải thể hiện thật tốt mới hài lòng về bạn. Vì sao? Bởi công việc Ngài làm vì bạn đã được hoàn tất. Thật vậy, một Cơ Đốc nhân không chỉ là người ngưỡng mộ Chúa Jêsus, noi gương Ngài và vâng lời Ngài, mà còn là người biết “yên nghỉ trong công việc đã hoàn tất của Chúa Cứu Thế”, thay vì đặt niềm tin nơi những gì mình làm được.

Hãy nhớ rằng Chúa nghỉ ngơi sau khi công cuộc sáng tạo đã hoàn tất (Sáng Thế Ký 2:1–3). Cũng vậy, người tin Chúa có thể thật sự yên nghỉ vì công việc cứu rỗi của Ngài đã được hoàn tất trong Chúa Jêsus.

Chúa đặt để con người trong nhiều lĩnh vực công việc khác nhau để góp phần đem lại điều tốt đẹp cho thế giới.

Vì vậy, khi lựa chọn nghề nghiệp, đừng xem đam mê là yếu tố quyết định tất cả, nhưng cũng đừng cho rằng nó không quan trọng. Chúa đã ban cho bạn những kinh nghiệm và khả năng nào? Công việc nào cho phép bạn dùng những điều ấy để phục vụ người khác? Và khi làm công việc nào, bạn có thể cảm nhận được sự vui lòng của Chúa? Keller khuyên:

Nếu phải lựa chọn giữa một công việc đem lại lợi ích cho nhiều người hơn và một công việc có mức lương cao hơn, bạn nên nghiêm túc cân nhắc công việc tuy trả lương thấp hơn nhưng có thể giúp ích cho nhiều người hơn – đặc biệt nếu đó là công việc bạn có khả năng làm tốt… Mọi công việc – chứ không chỉ những nghề chuyên chăm sóc hay giúp đỡ người khác – về bản chất đều có thể trở thành cách để chúng ta phục vụ người lân cận. Cơ Đốc nhân không nhất thiết phải làm công tác mục vụ hay làm việc cho các tổ chức từ thiện, phi lợi nhuận mới có thể yêu thương và phục vụ người khác qua công việc của mình.

Theo cùng mạch suy nghĩ đó, Keller nhắc đến một minh họa của Dick Lucas, một diễn giả người Anh mà ông rất yêu thích:

Nếu bước đến quầy sách trong nhà thờ và thấy một cuốn tiểu sử mang tựa đề “Người Nam Được Chúa Sử Dụng” hoặc “Người Nữ Được Chúa Sử Dụng”, có lẽ bạn sẽ nghĩ ngay đó là câu chuyện về một giáo sĩ, một mục sư hay một người làm công tác thuộc linh nào đó, phải không? Sở dĩ chúng ta thường nghĩ như vậy là vì Hội Thánh đã phần nào định hình cách nhìn của chúng ta theo hướng ấy. Nhưng trong câu chuyện về Giô-sép, điều chúng ta thấy lại là một người lãnh đạo trong xã hội đạt được thành công rất lớn. Xét ở một khía cạnh nào đó, làm một người giảng dạy, một giáo sĩ hay một người hướng dẫn học Kinh Thánh thậm chí còn dễ hơn, bởi những công việc ấy vốn đã được nhìn nhận là mang ý nghĩa thuộc linh. Điều khó hơn nhiều là giúp Cơ Đốc nhân nhận ra rằng Chúa có thể sử dụng họ cách mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực của đời sống – từ y khoa, luật pháp, kinh doanh cho đến nghệ thuật. Đây chính là điều chúng ta còn thiếu rất nhiều ngày nay.

Chúa đặt để con người trong nhiều lĩnh vực công việc khác nhau để qua đó đem lại ích lợi cho thế giới. Dù bạn đang thuận lợi trong công việc, đang trải qua nhiều khó khăn, hay vẫn còn loay hoay lựa chọn con đường nghề nghiệp cho mình, hãy nhớ rằng Chúa vẫn tể trị và sự khôn ngoan của Ngài là vô hạn. Như sứ đồ Phao-lô viết:

“Mỗi người phải sống theo ơn Chúa ban, và theo sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Đây là điều tôi đã dạy trong tất cả các Hội Thánh” (I Cô-rinh-tô 7:17).

Bài: Matt Smethurst; dịch: Esther Võ

(Nguồn: desiringgod.org)


Posted

in

by

Tags:

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *